Latest Post

Nếu bạn cũng 15 tuổi như Nguyễn Phúc Ánh (cỡ mới vào lớp 10), gia đình chết hết, bơ vơ giữa một xứ sở xa lạ cách quê nhà gần 1200 cây số, lại có một kẻ thù sở hữu sức mạnh vô địch như Tây Sơn luôn săn đuổi ngày đêm, bạn sẽ làm gì tiếp theo?

Mình muốn nghe phương án hành động của bạn. Bạn sẽ tính toán ra sao để sống sót trong vòng 25 năm, báo thù, lấy lại nhà cửa và lên ngôi hoàng đế, hoàn thành cuộc chơi ở độ khó cao nhất. Let the game begin.

Riêng mình nghĩ đến là thấy nản mẹ rồi, chắc kiếm cái chùa nào đó dưới miệt vườn đi tu cho nhanh, game over. Hoặc treo cổ, hy vọng random ra được character khác với cốt truyện đỡ phức tạp hơn. =))

Nguyễn Ánh, năm 15 tuổi từ một vương tử trở thành một đứa nhỏ lang thang không nhà không cửa. Ông đã tan nát cõi lòng chứng kiến cảnh từng người thân của mình bị đóng cũi giải đi xử tử. Ký ức đau đớn đó luôn hằn sâu trong tâm trí cậu bé. Quân Tây Sơn đã truy sát tận cùng họ Nguyễn Phúc trong khi đôi bên không có oán hận gì, thù này không sâu sao được? 

17 tuổi, Nguyễn Phúc Ánh trở thành Đại nguyên soái - lãnh tụ chống Tây Sơn ở Gia Định. Lúc ấy Tây Sơn đang độ mạnh nhất, mọi thứ của Nguyễn Ánh đều không thể so bì được, cả nhân lực lẫn thực lực. Ông thua rất nhiều trận, đếm cũng không hết. Nhiều hôm phải quây quần cùng với quân sĩ ngồi ăn bữa cơm chỉ có rau và cá muối.

Bao phen lênh đênh trên biển nhịn đói nhịn khát, Nguyễn Ánh cứ nghĩ số mình đến đây đã tận. Như lần ông vào cửa sông do thám thì quân Tây Sơn phát hiện, ra sức truy sát. Đến khi Tây Sơn không còn rượt nữa thì thuyền ông đã long đong trên đại dương được 7 ngày. Thức ăn hết, nước ngọt cũng hết, Nguyễn Ánh ngẩng mặt lên trời khóc thì bỗng đâu có nước ngọt tràn đến. Người ta nói là trời cứu ông, nhưng có thể là do Cửu Long giang đổ ra biển sau mùa lũ, lượng nước quá dồi dào nên chưa bị mặn. 
   Rồi có phen Nguyễn Ánh bị phò mã Trương Văn Đa tìm diệt đến tận Côn Đảo nhưng gặp bão. Cơn bão đó không giết ông mà lại cứu vớt ông. Nguyễn Ánh trôi dạt giữa biển cả dưới bão tố vần vũ điên cuồng mà không chết, thật kỳ tích.

Nguyễn Ánh tiêu diệt Tây Sơn là vì trách nhiệm phục hưng lại gia tộc đã bị thảm sát đặt nặng lên đôi vai, quyết tâm của ông là vậy và mục đích sống của ông cũng là thế. Như người thường thì Nguyễn Ánh cạo đầu đi tu cho nhanh, việc gì phải lì lợm đến mức đặt bản thân vào cửa tử biết bao nhiêu lần, từ hai bàn tay trắng đối đầu với đoàn quân hùng mạnh nhất thời đó. 

Có thể Nguyễn Ánh không phải một minh quân vì các sai lầm trong đời của mình, nhưng ông cũng không phải là hôn quân.

---

Khu vực Đông Nam Á vào cuối thế kỷ 18 không phải là những quốc gia có lãnh thổ hành chính rõ rệt được quy định theo công pháp quốc tế ngày nay, mà là những khu vực ảnh hưởng theo từng dòng họ, khi mạnh thì bành trướng, khi yếu thì co cụm. 

Hai trăm năm ly khai bên bờ sông Ranh đã biến Đàng Trong thành một xứ sở với văn hóa và sắc tộc hoàn toàn khác biệt với Đàng Ngoài. 

Đàng Ngoài là nước An Nam, còn Đàng Trong là nước Quảng Nam. 

Đó là lý do phải nghiêm chỉnh nhìn nhận hai Đàng là hai vương quốc khác nhau. 

Nguyễn Nhạc không cho Nguyễn Huệ đánh ra bắc vì ông cũng thừa nhận Đàng Ngoài là một nước lớn có truyền thống lâu đời, và cho rằng dù đời ông có chiếm được thì đời con cháu ông cũng không giữ được.

Nguyễn Ánh là người thừa kế chính danh và hợp pháp của nước Đàng Trong, thủ đô Phú Xuân. Đất nước đó do ông tổ Nguyễn Hoàng lập ra và kết thúc khi Nguyễn Cư Trinh vẽ nét bút cuối cùng. 

Tổ quốc của Nguyễn Ánh mất về tay người khác là Tây Sơn, thì nghĩa vụ của ông ta là phải lấy lại.

Vương tử Nguyễn Ánh đã cố gắng rất nhiều, thua liên tục nhưng không đòi lại được nên phải mời đồng minh. 

Vấn đề nằm ở chỗ này nên nhiều người nói Ánh là kẻ bán nước Việt Nam. 

Nhưng lúc đó làm quái gì có nước Việt Nam, ông ta chỉ đòi lại đất Đàng Trong của tổ tiên do người khác cưỡng đoạt. 

Khái niệm "Việt Nam thống nhất" hay "non sông hình chữ S" chỉ có khi vua Gia Long ghép 2 đàng lại về sau. Đừng đem bản đồ Việt Nam thế kỷ 20 rồi đánh giá tình hình thế kỷ 18. 

Chưa kể Ánh mời Xiêm để đòi lại đất và đuổi Tây Sơn, chứ không phải mời Xiêm vào để cướp hiếp giết dân ổng.

Nhà Đường sau loạn An Lộc Sơn đã rất yếu sinh lý, không còn đủ sức chống lại đế chế Thổ Phồn xâm lược. Quân Thổ Phồn chiếm được Trường An, buộc vua Đường phải cầu viện đến quân Hồi Hột, vốn cũng là một đế chế thảo nguyên hùng mạnh cùng thời. Việc này về sau không ai đánh giá là vua Đường bán nước. 

Chủ quyền của mỗi quốc gia được khẳng định chính xác kể từ lúc thế giới hình thành trật tự cố định sau thế chiến thứ 2. 

Nên từ mốc đó trở đi chuyện xâm lược mới bị quốc tế lên án dữ dội. Trong cái thời phong kiến và thực dân, hay thời đại của chinh phạt và khởi nghĩa, biên giới các quốc gia bị thay đổi liên tục. 

Đại khái thằng nào mạnh thằng đó ăn, chẳng có luật pháp quốc tế can thiệp, cũng chẳng có ai quan ngại sâu sắc giùm. Cho nên khi bị đánh thì chỉ có hai cách:

Một là tự lực cánh sinh nếu cảm thấy tự tin rằng mình đủ sức khô máu được với đối phương. 

Như Anh thắng Pháp trong đại thủy chiến Trafalgar, Tôn Quyền thắng Tào Tháo ở Xích Bích... Đây là thượng sách.

Hai là khi chịu không nổi nhiệt nữa, do kẻ thù quá bá đạo thì gọi đồng minh đến cứu. 

Giống như cách vua Đường, vua Triều Tiên, chúa Nguyễn Phúc Ánh, hay các liên minh chống Napoleon, Cách mạng Mỹ... thực hiện. Đây là hạ sách.

Nói chung trước 1945, giỏi thì tìm cách đòi lại đất, dở thì mất đất về tay người, tệ hơn nữa là bị sáp nhập và biến mất khỏi bản đồ thế giới. 

Nên mình mới nói, đừng đem quan điểm chủ quyền thế kỷ 20 áp đặt cho tiền nhân của những thế kỷ trước. Vì những thứ mình lên án gay gắt bây giờ, ngày đó người ta lại nghĩ khác.

---

Xét về trình độ học vấn thì Nguyễn Huệ học cao hơn Nguyễn Ánh.

Nguyễn Huệ xuất thân trong một gia đình trung lưu giàu có (chứ không phải nông dân như nhiều bạn tưởng), thành ra từ bé đã được học hành tử tế. Thầy của Nguyễn Huệ rất nghiêm, lò luyện của ông giáo bắt buộc đứa nào học võ thì phải học cả văn, lôi thôi tống cổ ra khỏi lớp, không nói nhiều. Nguyễn Nhạc vì gánh kinh tế cho gia đình nên bỏ học sớm. Trong lúc anh trai đang chèo thuyền dọc sông Côn kết giao cùng giới hắc đạo, thì Nguyễn Huệ vẫn phải mài đít trên ghế nhà trường. Ban ngày luyện võ, ban đêm đọc sách, viết chữ cực đẹp. 18 tuổi tốt nghiệp trung học phổ thông loại giỏi, sau đó lên núi theo anh hành tẩu giang hồ.

Nguyễn Ánh khốn khó từ lúc thơ ấu, phải lưu lạc khắp nơi, chẳng mấy khi được ở yên một chỗ nên không được cắp sách đến trường, gặp gỡ bạn thân và cô giáo hiền như bao đứa bé cùng trang lứa khác. 

Bản thân Ánh không hiểu ngoại ngữ, nên khi mấy ông Tây xí xố tâu bày đều phải nhờ các quan phiên dịch giùm, bù lại cậu rất hay chữ Nho và có thể làm thơ. 
     Tính Ánh vốn tò mò nên thấy cái gì lạ đều tìm cách học cho bằng được, nhất là các bản vẽ vũ khí và những cách đắp lũy xây thành, đóng tàu, cũng như nhiều thứ khác. 

Nguyễn Ánh đặt tiki mua được nhiều sách vở và địa đồ bên châu Âu, thì nhờ chăm học mà hiểu gần hết.🤣

Tuy đường giáo dục còi cọc, nhưng bù lại kỹ năng mềm của Nguyễn Ánh rất khéo, đặc biệt là khả năng giao tiếp. Nguyễn Huệ khiến người ta rùng mình khi đối diện vì uy vũ của ông. Thì Nguyễn Ánh được người phương Tây đánh giá là cử chỉ rất dễ thương và hòa nhã, cấp dưới cũng kính trọng vì Nguyễn Ánh đối xử với họ rất tốt và thân mật.

---------------------

Một điểm rất hay của Nguyễn Ánh là ông ta nắm được tâm lý con người và dùng nó để thực hiện kế hoạch của mình.

Cả Tây Sơn lẫn Nguyễn Ánh đều cưỡng bức đi lính, nhưng Tây Sơn thì bắt bừa bãi, già trẻ lớn bé bắt hết. Còn Nguyễn Ánh thì bắt mọi người làm nông nghiệp, ai lười biếng thì sung quân. Ba năm đầu từ ngày khẩn hoang sẽ miễn thuế. Nếu thu từ 70-100 thùng lúa sẽ được "khuyến mãi" như sau: 

-Dân thường sẽ được miễn đào kênh, đắp thành một năm.
-Binh lính sẽ được miễn đi đánh nhau một năm.

Thành ra sau khi Tây Sơn hủy diệt Nam Bộ thì Nguyễn Ánh đã hồi sinh nó nhanh chóng nhờ kích thích mọi người hăng say lao động. Đó là việc thứ nhất.

Việc thứ hai, lúc Tây Sơn hạ xong thành Gia Định đã xảy ra vụ thảm sát Chợ Lớn vô cùng nghiêm trọng. Nhà văn Sơn Nam cho rằng có khoảng 10000 người chết, thây trôi tắc cả sông, cả tháng sau không ai dám ăn tôm cá ở đó. Nói chung ghê gấp 100 lần khủng bố nhà hát Bataclan ở Paris.

Về sau lúc Nguyễn Ánh hạ được thành Quy Nhơn, đổi tên thành Bình Định, dân chúng cũng sợ hãi vì không biết có bị thảm sát không. Nhưng trái lại, Nguyễn Ánh nghiêm cấm bất cứ hình thức cướp bóc nào và xử cực nghiêm những ai dám làm hại dân Quy Nhơn, trọng dụng những người chịu đầu hàng, đồng thời tha thuế 3 năm. Chính thế cho nên Quy Nhơn yên bình và Nguyễn Ánh về sau vẫn giữ được nơi này, dù nó là đất tổ nhà Tây Sơn.

Lúc thống nhất Việt Nam thì công việc càng khó hơn nữa, vì lúc này đất đai rộng gấp 3 lần ngày trước, lại thêm đủ nhóm dân tộc với tính cách và lịch sử khác nhau. Vua Gia Long cho lập các kho vận trữ lúa gạo (kho Bình Chuẩn Thương), cắt cử quan lại chăm lo việc cứu đói dân chúng. 

Mặc dù bị chửi từ nam tới bắc nhưng Nguyễn Ánh vẫn điều hành quốc gia ổn thỏa và hùng mạnh, ông ta hiểu cách làm vua.

Nguồn: Phạm_Vĩnh_Lộc


"LIBERTY" - "E PLURIBUS UNUM" - "IN GOD WE TRUST": đây là 3 giá trị mà nước Mỹ chọn làm tiêu ngữ (motto). 
"Các vị lập quốc chúng ta (nước Mỹ) trân trọng Tự Do, không phải dân chủ" ("Our country's founders cherished liberty, not democracy" - Ron Paul). Vì sao chọn "Liberty" làm giá trị nền tảng, không phải "Democracy"?

VÌ CÓ TỰ DO (LIBERTY), ẮT SẼ CÓ DÂN CHỦ (DEMOCRACY);
CÓ DÂN CHỦ, THÌ VẪN CÓ THỂ NÔ LỆ/CHƯA HOÀN TOÀN TỰ DO
&1&
Theo dòng lịch sử nước Mỹ, trong vụ kiện nổi tiếng Dred Scott với Sandford trong năm 1857, Tối cao pháp viện với 7 vị thẩm phán được tiến cử bởi đảng Dân Chủ đã bỏ phiếu ủng hộ chế độ nô lệ trong khi 2 vị thẩm phán từ đảng Cộng Hòa phản đối. Sự đối kháng này đã dẫn tới cuộc nội chiến. Tổng thống Abraham Lincoln (đảng Cộng Hòa) của bên thắng cuộc, sau đó, đã ban hành đạo luật giải phóng chế độ nô lệ.

Có lẽ nhiều người sẽ lấy làm khó hiểu tại sao đảng Dân Chủ ủng hộ chế độ nô lệ, vào thế kỷ 19, dường như đi ngược với tôn chỉ "Dân chủ" thì phải? Ồ, không, vẫn là dân chủ - nếu bạn hiểu đúng khái niệm này! Khác với quân chủ (thẩm quyền quyết định nằm ở nhà vua), thiết chế dân chủ khẳng định thẩm quyền nằm ở các lá phiếu của người dân. 

Vấn đề ở chỗ: những ai được xem là "dân", nói rõ hơn, những ai được định nghĩa là "công dân"?

Tòa án trong vụ kiện lừng danh nêu trên, khi đó, họ phán quyết: "người nô lệ không phải là công dân, họ là tài sản". Những người thủ đắc quyền công dân (ngoại trừ nô lệ vì chỉ được xem là "tài sản"), họ đều được quyền bỏ phiếu, do đó rõ ràng là quyền làm chủ vẫn thuộc về công dân đó thôi - hay nói cách khác, họ đang thực thi dân chủ (đâu phải quân chủ)!

&2&
Mỗi con người ("Nhân") trong chúng ta đều có hai chiều kích: chiều kích hàng ngang, còn gọi là "chiều kích xã hội", tương quan giữa con người với nhau trong xã hội/quốc gia; và chiều kích hàng dọc, tức tương quan với chính mình và với những thực tại siêu nhiên, tâm linh (tôn giáo, tín ngưỡng là một hình thái biểu hiện cho chiều kích này).

Với chiều kích hàng ngang, "Nhân" trở thành "Dân", mỗi con người khi ấy được hiểu là sinh thế xã hội / sinh thể chánh trị. Tức "Dân" là một khía cạnh trong cuộc sống của "Nhân".

Còn "Nhân" thì rộng hơn ý niệm "Dân", vì gồm không chỉ chiều kích hàng ngang mà còn cả chiều kích hàng dọc.

Một khi giản lược con người chỉ còn là sinh thể xã hội/sinh thể chánh trị (theo chiều kích hàng ngang), "Nhân" chỉ còn là "Dân" - mà do vậy, tùy bối cảnh chánh trị, ý niệm "Dân" khó tránh khỏi sự thiên vị, thiên lệch, định hướng, phân loại theo môi trường giai cấp này kia...

Mỗi con người cần được nhìn nhận là "Nhân", nhấn mạnh "Nhân Bản" (lấy con người làm gốc): con người được nhìn toàn diện cả chiều kích hàng ngang lẫn hàng dọc. 

Đâu là giá trị nền tảng của "Nhân"? Đó chính là TỰ DO (Liberty) để tôn trọng và làm triển nở phẩm giá con người.

* TỰ DO (LIBERTY)? Vẫn còn nhiều, rất nhiều người trong chúng ta còn bị mờ mịt, "hiểu" Tự Do lệch theo xu hướng của bản năng. Tôi xin giải minh qua hai bài viết (mời đọc: bài 1 - https://www.facebook.com/nguyenchuong158/posts/pfbid03rMEucidoAd2Cgqxhkg7Mpo8vpssde7EtkoJftAWypUUDEE1xxwjqTQbRDgYRJrMl

&3&
"E PLURIBUS UNUM"? Cụm chữ Latin này mang nghĩa "one from many parts", "từ nhiều nên một". Tức "cộng hòa" - mọi người cùng hợp tác làm việc với nhau. Đây là giá trị mà nước Mỹ đề cao. 

"IN GOD WE TRUST" mang giá trị gì? Nước Mỹ minh định đây là quốc gia đề cao vai trò của tôn giáo tín ngưỡng. 

Chữ "GOD", trong bối cảnh văn hóa lập quốc của nước Mỹ, được dựa vào Kinh thánh (Holy Bible). "God" là cách chuyển ngữ từ tiếng Do Thái: "YHWH" được đọc thành Yahweh hoặc Jehovah. Chuyển ngữ tiếng Việt là "Chúa hằng hữu", "Chúa tự hữu".  

"In God we trust": "Chúng ta tín thác nơi Chúa". 

Theo tiến trình phát triển về sau, câu "In God we trust" được quảng diễn là sự xác tín tâm linh đa dạng, tùy vào niềm tin tôn giáo mỗi người.

TỰ DO TÔN GIÁO tại Mỹ được bảo đảm bởi Tu chính án thứ nhứt ( First Amendment), là Tu chính án hàng đầu trong 27 Tu chính án trong nền luật pháp Mỹ. 

Theo Trung tâm nghiên cứu PEW, hiện nay người Mỹ có đức tin tôn giáo chiếm đến 76,5% dân số; trong đó Ki-tô giáo 70,6% (Tin Lành, Công giáo, Chính thống giáo...), các tôn giáo khác 5,9% (Do Thái giáo, Islam, Phật giáo...). 

* THAY LỜI KẾT 

Khi nhìn con người là "Nhân" chớ không chỉ là "Dân", ắt phải đề cao và tôn trọng TỰ DO (Liberty). Có Tự Do, như vậy, mới bảo đảm được việc thực thi dân chủ ở chiều sâu nhứt.

Gắn liền với TỰ DO (Liberty) là tinh thần CỘNG HÒA ("E Pluribus Unum") và giá trị TÂM LINH sâu xa cho cuộc hiện hữu của mỗi con người ("In God we trust") ./. 

Matthew NgChuong

---------------------------------------------------------------


Ví dầu cầu ván đóng đinh, 
Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi, 
Khó đi mượn chén ăn cơm, 
Mượn ly uống rượu, mượn đàn kéo chơi

Người Nam kỳ nghĩ sao nói vậy, không quá giữ kẽ, quanh co úp mở, vòng vo như người Bắc.

Đất Nam kỳ là vùng đất mới chỉ vỏn vẹn hình thành hơn 300 năm, Người khai hoang vào Nam kỳ đa số là dân tứ xứ, có người không nhà không cửa, có kẻ bị lưu đày, có người là dân cướp bóc sống ngoài vòng luật pháp, ngoài luân thường đạo lý tha hương đến xứ này...

- (Trong đó có cả đám bồ thần nhà Minh năm vào xin chúa Hiền nương nhờ vùng đất Cù lao, Mỹ tho sinh sống ,cộng thêm nhóm người Minh theo ông Mạc Cửu ở vùng Hà Tiên và những người Cao Miên bổn xứ nhưng bài này mình nói về người khai hoang gốc Việt)

Tính khí ngang tàng của những kẻ đi khai hoang đã có sẵn  cộng thêm sự khao khát tìm đường sanh lộ nơi  xứ sở lạ lùng con chim kêu cũng sợ con cá vùng cũng kinh. 

Những người cùng khổ như họ đã biến mảnh đất hoang vu không người ở thành làng xóm thành ruộng đồng phì nhiêu... Dẫu biết rằng cái giá cho những kẻ đi khai hoang là sự cô đơn thiếu thốn thậm chí sự khinh miệt của những người được coi là phong lưu quyền quý... 

Rồi những con người không quen biết nhau tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, do vậy cơ sở của quan hệ giữa họ ở đây không phải tình mà là nghĩa. Chính vì lẽ đó đã làm cho họ - những con người cùng khổ sống chết bên nhau trên mảnh đất mới càng yêu thương nhau hơn thông cảm cho nhau hơn, giúp đỡ nhau trong hoạn nạn chia sẻ với nhau miếng cơm manh áo, cái mà ngày nay chúng ta gọi là Tình Làng Nghiã Xóm. 

Trong tận cùng đau khổ thì ta mới nhận thấy một tình thương cộng đồng vô bờ bến của nhữg kẻ tha phương cầu thực - những kẻ tiên phong mỡ cõi - tổ tiên của những con người Nam bộ hiện đại hôm nay.. 

Những kẻ sống với quan niệm Tình Làng Nghiã Xóm đã cưu mang nhau trong tình láng giềng, rồi trai giang hồ yêu gái kẻ chợ, kẻ người Việt yêu người Tàu, cô người Miên thương anh người Chăm, chú người Tiều để ý dì người Hẹ.... Những kẻ lưu dân đến từ các sắc tộc không giống nhau, họ yêu thương nhau, ăn ở với nhau trong cái tình làng xóm đến thành cái nghiã phu thê.

Thế hệ con cháu của họ sau này không như người Bắc kỳ   - gia đình họ đa phần có gia phả tổ tiên nguồn cội mà biết mình sinh ra từ dòng tộc nào, ông cố ông sơ từng là quan là tướng triều đình này triều đình kia v.v...
Nhưng người Nam kỳ  ít quan tâm tới gia phả, họ chẳng hiểu ông chú, ông bác (hoặc lắm khi ông nội) của họ là ai. 
Họ chỉ nhớ mang máng tổ tiên xưa kia từ Bình Định, quảng Nam vào đây, con cái của mấy ổng chia ra làm nhiều hệ phái lập ngiệp ở Tân an, ở Cà Mau chăng...

Vì như đã nói vùng đất Nam kỳ  còn là đất của những lưu dân bần cùng, những người đi đày vô sản (khác với nông dân Bắc kỳ hữu sản), bởi vậy mà người Nam kỳ  liều lĩnh như không còn gì để mất, họ cũng đầy nghĩa khí, bởi vậy mới hình thành nên tính trọng nghĩa khinh tài (có người nói do dư âm còn sót lại của những người trong Thiên Điạ Hội. 

Người nông dân Nam kỳ hay uống máu ăn thề, hay kết nghĩa huynh đệ đồng sinh đồng tử. Họ coi cái chết "nhẹ tựa lông hồng", có khí thế ngang tàng nhất phá sơn lâm, nhì đâm hà bá. Lục Vân Tiên tay không bẻ cây đánh cướp để giải thoát Nguyệt Nga (người Nam kỳ mình rất thích và thuộc "Lục Vân Tiên" chính là do tính trọng nghĩa này) như Anh hùng Nguyễn Trung Trực khảng khái: "Bao giờ hết cỏ nước Nam, thì dân Nam mới hết người đánh Tây".

Tính trọng nghĩa khinh tài khiến người Nam kỳ coi nhẹ tiền tài, của cải vật chất: 
Theo nhau cho trọn đạo trời, 
Dẫu không có chiếu trải tơi mà nằm. 

Họ yêu trung ghét nịnh; phò trung phạt nịnh; phò chánh trừ tà; ân oán phân minh , họ có tác phong rõ ràng, dứt khoát: nói như rựa chém xuống đất; làm ra làm, chơi ra chơi; làm thì làm tới chết bỏ, còn ăn chơi thì phải xả láng mới đáng mặt 

Yêu đương trai gái cũng quyết liệt và ngang tàng: 

Dao phay kề cổ, máu đổ không màng, 
Chết tôi tôi chịu, buông nàng không buông; 
Đó đi tu, đây xin ở sãi, 
Ăn đĩa tương chùa trọn ngãi cùng nhau; 
Đôi lứa ta thương nhau, thương dại thương dột, 
Thương lột da óc, thương tróc da đầu, 
Ngủ đi thì chớ, thức dậy lại thương. 

Gió đưa buồn ngủ lên bờ, mùng cô em có rộng, cho ngủ nhờ một đêm; 
Nước Láng Linh chảy qua Vàm Cú, thấy bộ em chèo cặp vú muốn hun; 
Rượu ngon cái cặn cũng ngon, 
Thương em bất luận chồng con mấy đời. 
Người con gái cũng bạt mạng không kém: 
Cầu cao, ván yếu, bước rung, 
Anh thương em thì thương đại, ngại ngùng thì đừng thương; 
Anh về em nắm vạt áo em la làng, 
Phải để chữ thương chữ nhớ giữa đàng lại cho em; 
Dao phay chín ngọn, em bắt trọn có một mình, 
Chết em chịu chết, biểu buông mình em không buông; 
Anh có tiền dư cho em một đồng, 
Em về mua gan công, mật cóc thuốc chồng rồi em theo anh.

Hệ quả thứ nhất của tính trọng nghĩa là tính hào hiệp, sống hết mình, sẵn sàng đùm bọc, sẻ chia, kiểu hôm nay có tiền thì dốc túi đãi nhau, ngày mai thiếu thì tính sau. 

Hệ quả thứ hai của tính trọng nghĩa là tính hiếu khách. Do trọng nghĩa, hào hiệp, lại được thiên nhiên ưu đãi, trong khi lại đất rộng người thưa nên bất cứ người Việt nào đến đây cũng đều là bạn. 

Đại nam nhất thống chí có viết về người dân Nam : "Ưu đãi khách không kể tốn phí". 
Theo ghi chép của Trịnh Hoài Đức thì "Ở Gia Định có khách đến nhà, đầu tiên gia chủ dâng trầu cau, sau dâng cơm bánh, tiếp đãi trọng hậu, không kể người thân sơ quen lạ, tông tích ở đâu, ắt đều khoan nạp khoản đãi, cho nên người đi chơi không cần đem tiền gạo theo" 
[Trịnh Hoài Đức 1820/1998].

Nguồn tham khảo : Từ các tác phẩm về Nam Bộ của nhà văn Sơn Nam

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Name

Email *

Message *

Powered by Blogger.