Latest Post



Mấy hôm nay tôi thấy một số bạn post bài thơ "Tôi yêu tiếng Việt miền Nam", nhưng không có bình luận hay giải thích gì cả, nên vài người lầm tưởng là ... phân chia vùng miền. Không phải. Để tôi có đôi dòng giải thích bài thơ này ... 

Bài thơ này là của thi sĩ Bàng Bá Lân. Ông là người gốc Phủ Lạng Thương (Bắc Ninh). Năm 1954, ông di cư vào Nam và từng có thời gian sống ở Đồng Nai. Trước khi vào Nam ông đã là một nhà thơ có tiếng, từng có thơ đăng trên báo Đàn Bà, Công Dân, Nhân Loại, Tia Sáng. Ông nổi tiếng là một thi sĩ của miền quê (giống như Anh Thơ vậy). Ông có những vần thơ mà sau này đã đi vào âm nhạc. Ví dụ như câu: 

Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi.

mà sau này Hoàng Thi Thơ đưa vào ca khúc "Múc Ánh Trăng Vàng". Thế nhưng điều đáng ngạc nhiên là Vũ Ngọc Phan không đưa ông vào tuyển tập thơ văn thời tiền chiến. 

Quay lại bài thơ "Tôi yêu tiếng Việt miền Nam", theo tác giả cho biết thì ông sáng tác lúc mới vào Đồng Nai, vì thấy giọng nói ngọt ngào của phụ nữ Nam kì. Vì bị quyến rũ bởi giọng nói, nên Bàng Bà Lân sáng tác loạt bài "Tôi Yêu", và câu mở đâu đều là "Tôi yêu tiếng Việt miền Nam." Nguyên văn như sau: 

Tôi yêu tiếng Việt miền Nam,
Yêu con sông rộng, yêu hàng dừa cao.
Yêu xe thổ mộ xôn xao
Trên đường khúc khuỷu đi vào miền quê.

Tôi yêu đồng cỏ nắng se,
Nhà rơm trống trải, chiếc ghe dập dềnh.
Tôi yêu nắng loá châu thành,
Trận mưa ngắn ngủi, gió lành hiu hiu.

Nơi đây tôi mến thương nhiều,
Miền Nam nước Việt mỹ miều làm sao!
Xa xôi hằng vẫn ước ao
Vào thăm vựa lúa xem sao, hỡi mình!

Chừ đây tình đã gặp tình,
Tưởng như trong đại gia đình đâu xa.
Người xem tôi tựa người nhà,
Người kêu thân mật tôi là: Thầy Hai!

Ðồng bào Nam Việt ta ơi!
Tôi yêu cặp mắt làn môi thiệt thà.
Nước non vẫn nước non nhà,
Bắc Nam xa mấy vẫn là anh em!

Nhưng câu chuyện chưa chấm dứt ở đó. Sau khi đăng báo, ông có vẻ đổi ý, vì chắc nghĩ rằng câu thơ còn non hay sao đó, nên ông viết lại và đổi tựa đề bài "Tiếng Việt Miền Nam" và đăng trên tạp chí Tân Phong. Bài thơ được xem là đã nói lên tâm tình của người Bắc về tánh bao dung của người miền Nam. Bài đó như sau: 

Tiếng Việt miền Nam

Ôi! Tiếng Việt miền Nam
Nghe sao mà âu yếm
Giọng ngân dài lưu luyến
Cho lòng ta thương vương.

Ôi! Thương ai em thương thiệt là thương!
Em, cô gái Đồng Nai lòng cởi mở
Từ quen em, nắng vàng thêm rực rỡ
Dừa thêm xanh và vú sữa thêm ngon.

Lời em thơm như măng cụt no tròn
Giọng em ngọt như xoài vừa chín tới.
Những chữ ngân dài như gió thổi
Còn chữ C, G nghe đọc lỗi mà yêu.
Giọng TR trong trẻo đúng bao nhiêu!
Và anh nữa, ôi tiếng anh nũng nịu:
-Mong "ăn" mãi! Nhớ "ăn" hoài! "Ăn" có hiểu?
Em thương "ăn" quá xá là thương!
Lời em ngon như có mật có đường
Ta sung sướng gần em nghe giọng nói.

-Hãy nói nữa, nói nhiều đi em hỡi!
Qua không cần hiểu ý chỉ cần nghe
Giọng nói du dương, say đắm, đê mê,
Như nhạc sóng của Đồng Nai, sông Cửu.

Nhưng em bỗng ngừng im. Em nũng nịu:
-Nói đi "ăn," nghe giọng Bắc em thương!
Cầm tay em, say ngắm cặp môi hường
Lòng tràn ngập niềm mến thương đằm thắm.

Ôi! Nam Bắc đã xa nhau vạn dặm
Vẫn cùng chung tiếng mẹ, vẫn quê cha
Gặp nhau đây trong ánh nắng chan hòa
Hai giọng nói cùng đồng ca hợp tấu.

Hai huyết quản vẫn cùng chung dòng máu
Hai tâm hồn hòa hợp cảm thông nhau
Tiếng Việt miền Nam, giọng nói nhiệm màu
Có phép lạ khiến tình ta lưu luyến.

Em! Cô gái miền Nam ta thương mến
Muốn gần em, gần mãi để nghe em!


(mà nhiều người trong chúng ta cũng chưa đủ chú ý đến)

Các triều đại quân chủ trong lịch sử chúng ta, tỉ như các đời vua Đinh, vua Lý, vua Trần, vua Lê, vua Nguyễn, có bao giờ chúng ta gọi là ... nước Đinh, nước Lý, nước Trần, nước Lê, nước Nguyễn không? Không hề! 
Bên Tàu thì khác hoàn toàn. 
Chẳng hạn, trong thời Chiến quốc có 7 vương triều tranh nhau hùng cứ mỗi phương, đó là vua Tề, vua Sở, vua Yên, vua Hàn, vua Triệu, vua Ngụy, vua Tần - họ đều gọi là "nước" hết ráo: nước Tề, nước Sở, nước Yên, nước Hàn, nước Triệu, nước Ngụy, nước Tần. 

Đây là sự khác biệt, độc đáo hết sức của văn hóa Việt tộc khi đem đối chiếu với Hán tộc:

1) Văn hóa Tàu đồng nhứt vương triều với quốc gia, lấy danh xưng của triều đại trùm lên thay cho quốc hiệu (tên quốc gia). 

Thời Chiến quốc, lãnh thổ của vua Triệu gọi luôn là "nước Triệu". Rồi các đời nhà Hán, Đường, Tống, Minh... toàn đội vương triều lên đầu thay cho quốc hiệu, nào là "Đại Hán", "Đại Đường", nào là "Đại Tống", "Đại Minh"... 

Mỗi triều đại bên Tàu CHỈ LẤY MỘT danh xưng mà thôi (danh xưng của triều đại). 

[ Mãi tới thời hiện đại, bên Tàu mới có quốc hiệu thay cho danh xưng triều đại, gọi là: "Trung Hoa", hoặc là Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, hoặc là Trung Hoa dân quốc. 
Nói nào ngay, hai chữ "Trung Hoa" cũng đã xuất hiện từ xưa, thường gặp hơn là "Trung Nguyên" và "Hoa Hạ" - nhưng chưa bao giờ "Trung Hoa" trở thành tên nước một cách chính thức, như nói trên, toàn tên triều đại: "Đại Minh", "Đại Thanh", "Đại Tống"... làm trùm phé ] 

2) Còn ở văn hóa Việt, dầu ngày xưa quyền bính tối thượng thuộc về vương triều, ưng "trảm" ai thì "trảm" đi nữa, nhưng KHÔNG lấy danh xưng của triều đại để biến thành tên nước, không đồng nhứt nhà vua với quốc gia! 

Nói cách khác, việc đặt quốc hiệu lên trên danh xưng triều đại là một "dấu chỉ" để chúng ta nhận biết đây là VĂN HÓA VIỆT! 

Đinh Tiên Hoàng lên ngôi, chớ hề gọi "nước Đinh" mà đặt tên nước là: ĐẠI CỒ VIỆT. 
Rồi nhà Lý, nhà Trần, nhà Lê... thay phiên nhau nắm quyền nhưng hết thảy cũng đều dùng quốc hiệu, đó là ĐẠI VIỆT. 

Vua Gia Long lập nên nhà Nguyễn, chớ hề gọi "nước Nguyễn" mà gọi tên nước là: VIỆT NAM.
Vua Minh Mạng cũng thuộc nhà Nguyễn, chớ hề gọi "nước Nguyễn" mà gọi tên nước là: ĐẠI NAM.
(theo Dụ của vua Minh Mạng, tên nước Đại Nam là gọi rút gọn cho Đại Việt Nam)

Mỗi triều đại bên Việt đều có HAI danh xưng (như danh xưng triều đại "nhà Nguyễn", đồng thời có danh xưng "VIỆT NAM" để làm quốc hiệu), trong khi mỗi triều đại bên Tàu chỉ dùng MỘT danh xưng (lấy danh xưng của triều đình mà thôi). 

Sự khác biệt độc đáo dẫn trên, tôi nghĩ, đây là biểu hiện của ý thức về lãnh thổ đã ăn sâu vô trong "huyết quản" VĂN HÓA VIỆT khiến bao đời tiền nhân TRƯỚC ĐÂY không dễ bị đồng hóa là vì vậy...

- Matthew NChuong -

Từ lâu, người Sài Gòn đã rất khâm phục cách đặt tên cho đường phố ở Sài Gòn-Gia Định-Chợ Lớn.
Mọi người vẫn đinh ninh rằng đó là tập họp của một công trình có sự đóng góp trí tuệ của nhiều người, một Hội đồng gồm nhiều: học giả, sử gia, nhà văn uy tín…
Nhưng thật sự bất ngờ khi được biết kiệt tác lịch sử này đã được hoàn thành bởi một công chức...!           
Người đó là Trưởng Phòng Họa Đồ thuộc Tòa Đô Chánh-Sài Gòn.
Ông Ngô Văn Phát, Nhà văn – bút hiệu Thuần Phong, sinh ngày 16-10-1910 tại huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu....!
Để đánh dấu việc giành độc lập từ tay người Pháp, Toà Đô Chánh Sài Gòn được lệnh gấp rút thay thế toàn bộ tên đường từ tên Pháp qua tên Việt trong khoảng thời gian ngắn nhất. Nhiệm vụ này được giao cho Phòng Hoạ Đồ. 
Sau hơn ba tháng nghiên cứu, ông Ngô Văn Phát đã đệ trình lên Hội Đồng Đô Thành toàn bộ danh sách tên các con đường và đã được chấp thuận trong sự nể phục...!
Các con đường được đặt tên với sự suy nghĩ rất lớp lang, mạch lạc với sự cân nhắc, đánh giá, bao gồm cả công trạng từng anh hùng, phù hợp với địa thế và các dinh thự đã có sẵn từ trước... Tác giả đã cố gắng đem cái nhìn vừa tổng quát lại vừa chi tiết, những khía cạnh vừa có tình vừa có lý, đôi khi chen lẫn tính hài hước, vào việc đặt tên hiếm có này. Phải là một con người có tâm, có tầm mới nghĩ ra và đặt tên cho hay, ý nghĩa, phù hợp với lòng người...!
-Đầu tiên là những con đường mang những lý tưởng cao đẹp mà toàn dân hằng mơ ước: Tự Do, Công Lý, Dân Chủ, Cộng Hoà, Thống Nhất. Những con đường hoặc công trường này đã nằm ở những vị trí thích hợp nhất.
-Đường đi ngang qua Bộ Y Tế (xưa) thì có tên nào xứng hơn là Hồng Thập Tự.
-Đường De Lattre De Tassigny chạy từ phi trường Tân Sơn Nhất đến bến Chương Dương đã được đổi tên là Công Lý, vì đi ngang qua Pháp Đình. (Toà án xưa).
-Đại Lộ Nguyễn Huệ nằm giữa trung tâm Sài Gòn nối từ Toà Đô Chánh (Ủy ban Nhân dân Thành phố nay) đến bến Bạch Đằng rất xứng đáng cho vị Anh hùng đã dùng chiến thuật thần tốc phá tan hơn 20 vạn quân Thanh. Đại Lộ này cũng ngắn tương xứng với cuộc đời ngắn ngủi của Ngài-Nguyễn Huệ.
-Những danh nhân có liên hệ với nhau thường được xếp gần nhau như Đại Lộ Nguyễn Thái Học với đường Cô Giang và đường Cô Bắc, cả ba là lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Yên Bái. 
-Đường Phan Thanh Giản nằm gần đường Phan Liêm, Phan Ngữ là hai người con Ông, đã tiếp tục sự nghiệp chống Pháp sau khi Phan Thanh Giản tuẩn tiết...!
-Ông Cao Thắng một chuyên gia làm súng chống Tây thì "được" ở gần 2 Nhà kháng chiến: Nguyễn Thiện Thuật và Phan Đình Phùng.
-Những đại lộ dài nhất được đặt tên cho các anh hùng Trần Hưng Đạo, Trần Quốc Toản, Lê Lợi và Hai Bà Trưng. Mỗi đường rộng và dài tương xứng với công trạng dựng nước, giữ nước của các Ngài. 
-Đường mang tên Lê Lai, người chịu chết thay cho vua Lê Lợi thì nhỏ và ngắn hơn, được nằm cận kề với đại lộ Lê Lợi. Như Quân và Thần xưa kia...!
-Đường Khổng Tử và Trang Tử trong Chợ Lớn với đa số người dân là người Hoa cư ngụ nên gắn liền với họ.
-Bờ sông Sài Gòn được chia ra ba đoạn, đặt cho các tên Bến Bạch Đằng, Bến Chương Dương, và Bến Hàm Tử, để ghi nhớ những chiến công, các trận thuỷ chiến lẫy lừng trong lịch sử chống quân Mông Cổ, chống Nhà Nguyên của Hưng Đạo Đại Vương vào thế kỷ 13. 
-Thẳng góc với hai đường Bà Huyện Thanh Quan và Đoàn Thị Điểm là đường Hồ Xuân Hương. Đó là Ba nữ sĩ nằm bên cạnh nhau, thật là có lý vì cả ba đều là văn thi sĩ nổi danh...
•Năm 1957, ông Ngô Văn Phát có bài đăng trên bộ Tự điển Encyclopedia – Britannica ở Luân Đôn (Anh Quốc). Đó là chuyên đề Khảo cứu về thành phố Sài Gòn. •Năm 1964 với chuyên đề Ca dao giảng luận in trên tạp chí Trường Viễn đông Bác cổ ở Paris (sau in thành sách ở Sài Gòn). 
•Cùng năm này ở Trường Cao học Sorbonne (Paris), ông cũng có chuyên đề "Nguyễn Du et La  Métrique Populaire" (Nguyễn Du với thể dân ca) trong bộ sách nhan đề: Mélanges sur Nguyên Du (Tạp luận về Nguyễn Du).
•Những năm 1970, ông được mời thỉnh giảng môn Văn học dân gian tại Đại học Văn khoa, Sư phạm Huế và Cần Thơ.
Ngoài ra, hầu hết những con đường khác ở Sài Gòn-Gia Định-Chợ Lớn đều do Ông và đồng sự đặt ra...
*TÊN NHỮNG CON ĐƯỜNG Ở SÀI GÒN-GIA ĐỊNH VÀ CHỢ LỚN TRƯỚC VÀ SAU NĂM 1975....
•Bùi Chu > Tôn Thất Tùng.
•Chi Lăng > Phan Đăng Lưu.
•Công Lý > Nam Kỳ Khởi Nghĩa.
•Cộng Hòa > Nguyễn Văn Cừ.
•Cường Để > Tôn Đức Thắng.
•Duy Tân > Phạm Ngọc Thạch.
•Đoàn Thị Điểm > Trương Định (cả Đoàn thị Điểm và Trương Công Định đều đổi thành Trương Định).
•Đỗ Thành Nhân > Đoàn Văn Bơ.
•Đồn Đất > Thái Văn Lung.
•Đồng Khánh > Trần Hưng Đạo B.
•Gia Long > Lý Tự Trọng.
•Hiền Vương > Võ Thị Sáu.
•Hồng Thập Tự > trước là Xô Viết Nghệ Tĩnh. Nay là Nguyễn Thị Minh Khai.
•Huỳnh Quang Tiên > Hồ Hảo Hớn. 
•Lê Văn Duyệt (Gia Định) > Đinh Tiên Hoàng.
•Lê Văn Duyệt (Sài Gòn) > Cách Mạng Tháng 8.
•Minh Mạng > Ngô Gia Tự.
•Ngô Tùng Châu > Nguyễn Văn Đậu.
•Ngô Tùng Châu (Sài Gòn)> Lê thị Riêng.
•Nguyễn Đình Chiểu > Trần Quốc Toản.
•Nguyễn Hoàng > Trần Phú.
•Nguyễn Huệ (Phú Nhuận) > Thích Quảng Đức.
•Nguyễn Huỳnh Đức > Huỳnh Văn Bánh.
•Nguyễn Minh Chiếu > Nguyễn Trọng Tuyển.
•Nguyễn Phi > Lê Anh Xuân.
•Nguyễn Văn Học > Nơ Trang Long.
•Nguyễn Văn Thinh > Mạc Thị Bưởi
•Nguyễn Văn Thoại > Lý Thường Kiệt.
•Pétrus Ký > Lê Hồng Phong.
•Phạm Đăng Hưng > Mai Thị Lựu.
•Phan Đình Phùng > Nguyễn Đình Chiểu.
•Phan Thanh Giản > Điện Biên Phủ.
•Phan Văn Hùm > Nguyễn thị Nghĩa
•Phát Diệm > Trần Đình Xu.
•Sương Nguyệt Ánh > Sương Nguyệt Anh.
•Tạ Thu Thâu > Lưu Văn Lang.
•Thái Lập Thành (Phú Nhuận) > Phan Xích Long.
•Thái Lập Thành (Q1) > Đông Du.
•Thành Thái > An Dương Vương.
•Thiệu Trị > Nguyễn Văn Luông.
•Thoại Ngọc Hầu > Phạm Văn Hai.
•Thống Nhất > Lê Duẩn.
•Tổng Đốc Phương > Châu Văn Liêm.
•Trần Hoàng Quân > Nguyễn Chí Thanh.
•Trần Quốc Toản > 3 Tháng 2.
•Trần Quý Cáp > Võ Văn Tần
•Triệu Đà > Ngô Quyền.
•Trịnh Minh Thế > Nguyễn Tất Thành.
•Trương Công Định > Trương Định (cả Đoàn Thị Điểm và Trương Công Định đều đổi thành Trương Định).
•Trương Tấn Bửu > Trần Huy Liệu
•Trương Minh Ký > Lê Văn Sĩ.
•Trương Minh Giảng > Trần Quốc Thảo.
•Tự Đức > Nguyễn Văn Thủ.
•Tự Do > Đồng Khởi.
•Võ Di Nguy (Phú Nhuận) > Phân thành 2 đường Phan Đình Phùng và Nguyễn Kiệm.
•Võ Di Nguy (Sài Gòn) > Hồ Tùng Mậu.
•Võ Tánh (Phú Nhuận) > Hoàng Văn Thụ.
•Võ Tánh (Sài Gòn) > 1 phần của Nguyễn Trãi, khúc giao với Cống Quỳnh.
•Yên Đổ > Lý Chính Thắng.
**Ông mất vào năm 1983 tại Sài Gòn hưởng thọ 73 tuổi...!
Một con người uyên bác, trí thông, học thức như ông vừa có Tâm, có Tầm, có Tài, có Đức đáng được người sau ngưỡng mộ và tri ân...!

- Đinh Trực sưu tầm -

Umbala Sài Gòn | Sưu tầm

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Name

Email *

Message *

Powered by Blogger.